Đền hùng Phú Thọ

Đền Hùng di tích lịch sử đặc biệt của Quốc gia, nơi thờ tự các vua Hùng có công dựng nước, Tổ tiên thiêng liêng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Từ xa xưa  cư dân vẫn lên ngọn núi “Tổ sơn” để hương khói phụng thờ, bày tỏ lòng tri  ân Vua Hùng và các bậc tiền nhân có công với nước.  Quần thể Khu di tích lịch sử Đền Hùng chứa đựng các di tích văn hóa vật thể: Đền đài lăng tẩm, các công trình kiến trúc văn hoá; giá trị văn hoá phi vật thể: Tín ngưỡng, lễ hội..., và rừng Quốc  gia.

 

Một trong những đặc trưng quan trọng của Di sản văn hoá Đền Hùng là mang tính cộng đồng sâu sắc, cộng đồng chủ thể sáng tạo, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và không ngừng được  tái tạo để thích ứng và tác động tới lịch sử, đem lại ý thức về bản sắc và tính kế thừa, từ đó tăng cường tính sáng tạo, sự đa dạng văn hoá.
 
 Các ngôi đền: Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng, Đền Giếng khởi thủy do cư dân các làng xã dưới chân núi Nghĩa Lĩnh xây dựng. Trước Cách mạng tháng 8 có lệ: Đền Thượng và đền Giếng do thôn Cổ Tích trông nom; Đền Trung do thôn Trẹo (bây giờ gọi là Triệu Phú) còn Đền Hạ do thôn Vy Cương trông nom. Các ngôi đền thờ Hùng Vương ban đầu là những ngôi miếu nhỏ, được nhân dân địa phương tôn tạo dần khang trang. Tại Đền Hùng hiện nay còn có tấm bia “Nhất bản xã tín thí” (Bia công đức của xã) được làm vào thời Lê khoảng cuối thế kỷ XVI trong bia có ghi tên người địa phương cung tiến  ruộng thu hoa màu để xây dựng tu bổ Đền Hùng. Vào các thế kỷ XVII - XVIII đền Hạ, Đền Trung, Đền Giếng tiếp tục được nhân dân địa phương xây dựng và tôn tạo để thờ tự Tổ tiên các vua Hùng.
 
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương với địa bàn gốc, tâm điểm thực hiện tại các ngôi đền trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc di tích lịch sử Đền Hùng được cộng đồng dân tộc Việt Nam đồng thuận, tự nguyện gìn giữ và chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, với bề dày lịch sử đã trở thành tín ngưỡng của cả dân tộc, quốc gia, có sức sống mãnh liệt vượt qua thời gian đến hôm nay. Đền Hùng là điểm thiêng liêng trong tâm thức và tâm linh của người Việt Nam.
 
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có được sự đồng thuận cao của các vương triều phong kiến và nhân dân. Ngay trong thời hiện đại sự đồng thuận đó vẫn được duy trì và không ngừng củng cố phát triển “ý Đảng” luôn hợp với “lòng dân”. Có lẽ tính cố kết cộng đồng, nhận thức về ông Tổ của cả nước. Trong tâm thức dân gian của cộng đồng dân tộc Việt Nam, Vua Hùng vừa là Thủy Tổ, vừa là người lập nước, khai mở nước Văn Lang cổ đại, nhưng cũng là người chăm lo cuộc sống cho dân. Vừa thiêng liêng, vừa gần gũi có mặt trong cuộc sống của cộng đồng,  đó là cơ sở tạo ra đặc trưng của tín ngưỡng.  
Cuốn Ngọc phả Hùng đồ thập bát diệp Thánh vương Ngọc phả cổ truyền vào năm Nhâm Thìn (1472) ghi chép việc cho miễn thuế khóa, sưu dịch của triều đình:
 
 “Chuẩn cho miếu điện và các làng đăng cai (là thôn Trung Nghĩa xã Nghĩa Cương)  tô thuế, binh dân và sai sưu, tạp dịch vẫn theo lệ cũ phụng thờ các vua Hùng để dài quốc mạch, lưu thơm muôn đời”.
Các vương triều kế tiếp như nhà Lê, Trịnh, nhà Tây Sơn, nhà Nguyễn nhiều lần phong sắc, ra chỉ dụ cho dân xã vùng ven khu vực Đền Hùng nơi thờ cúng Thánh Tổ:
 
Lệnh chỉ của Trịnh Khải nhân danh “Nguyên soái tổng quốc Đoan Nam Vương” ngày 23 tháng 2 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 46 (1785): “Do xã Hy Cương (này) nguyên là dân Tạo lệ đồng trà, phụng sự vị Đột Ngột Cao Sơn và 18 đời Thánh Vương họ Hùng nước Việt cổ, đã sửa chữa Đền Thượng, Đền Trung, Đền Hạ cho đến chùa trên núi Hùng…
 
Phàm phận binh, thuế hộ. Thuế tô dung điệu, thuế của đình, các thuế phát sinh, chuẩn thành tiền cùng việc bồi đắp dung lập đường xá nối kết các đình trong năm, các vật tế thờ cho đến các việc mua sắm luân dịch và sưu sai tạp dịch, đều được miễn trừ. Hễ trong đền miếu có hư hỏng cho sửa chữa lại theo khuôn mẫu cũ, để tiện thờ cúng, giúp mạch nước thọ lâu…”.
 
Sắc chỉ của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ đề ra ngày 16 tháng 2 niên hiệu Quang Trung năm thứ 2 (1789), cho dân sở tại được miễn tô thuế lao dịch sử dụng tiền đó vào việc “Tu sửa điện miếu phải chăm lo cẩn thận, cốt tiện phụng sự, khiến mạch nước dài lâu, sông núi trường tồn”.
 
Đến đời nhà Nguyễn việc tu bổ tôn tạo Đền Hùng đã được quan tâm mở mang, nguồn kinh phí đóng góp của Nhà nước và nhân dân. Hiện nay các văn bia của Đền Hùng đã ghi chép về việc tu bổ tôn tạo này.
 
Tại Đền Thượng bia ghi “Hội đồng trùng tu bia ký” trong đó ghi khắc tên tuổi các nhân vật nằm trong “Hội đồng tu sửa lớn”. Khu Đền Thượng năm Duy Tân thứ 8 (1914) đã nêu tên Chủ tịch Hội đồng Chế Quang Ân gốc ở Mỹ Xuyên - Thừa Thiên; hai ông ủy viên Nguyễn Văn Tuấn quê ở Hà Tĩnh, ông Vũ Đình Khôi quê ở Thanh Hóa, một số các ông đốc công người ở Hà Đông, người ở Hải Dương có 2 ông “tùy viên Lâm Thao phủ” là người địa phương trong đó có ông Triệu Văn Tý là người Hy Cương (Tiên chỉ, Chánh Tổng) như vậy người ở khắp mọi miền đất nước đã tâm huyết dồn về Đền Hùng để chăm lo việc trùng tu tôn tạo các công trình văn hóa vật thể.
 
Nhiều vị chức sắc đã được kể đến trong đó có Quận công Hoàng Cao Khải đã xin chính phủ cấp 2.000 đồng vào năm Duy Tân Tam Niên (1909), Duy Tân Lục Niên (1912) để tu bổ Đền Thượng và Lăng Hùng vương. Bia ghi việc tu tạo lớn, cùng với sự trợ giúp của triều đình lực lượng chính góp tiền của và tâm huyết xây dựng tu bổ Đền Hùng là đông đảo quần chúng nhân dân.
 
Từ sau ngày đất nước độc lập Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quan tâm tới việc bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử Đền Hùng. Từ năm 1996 đến nay các công trình kiến trúc Đền Hạ, Đền Trung, Đền Thượng, Lăng Hùng Vương, Đền Giếng được đại trùng tu. Tiếp tục mở mang  các công trình kiến trúc thờ tự quy tụ những giá trị văn hóa tâm linh về nơi cội nguồn, hình thành nên hệ thống đền thờ cha Rồng, mẹ Tiên là tổ tiên thiêng liêng của con cháu Lạc Hồng, như xây dựng Đền Tổ Mẫu Âu Cơ trên đỉnh núi Vặn năm 2005, xây dựng đền thờ Quốc Tổ Lạc Long Quân năm 2007 trên núi Sim bằng nhiều nguồn kinh phí của Nhà nước và nguồn kinh phí xã hội hóa do các tập thể, cá nhân tham gia đóng góp.
Ngày nay, Khu di tích lịch sử Đền Hùng đang được tu bổ xây dựng với một quy mô lớn hướng vào mộ tổ đó là tín ngưỡng toàn dân, bởi cộng đồng dân tộc ta chỉ thờ một vị tổ độc nhất vô nhị - tổ Hùng Vương của cả nước.